Sau gần 40 năm Đổi mới, từ chỗ gần như không được ghi nhận chính thức, kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, đạt được những thành tựu không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn thể hiện sự sẵn sàng, chủ động của kinh tế tư nhân trong việc tiên phong đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh – hai trụ cột then chốt để Việt Nam đạt mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.
Để làm rõ hơn vai trò then chốt này cũng như các giải pháp tháo gỡ rào cản, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững, phóng viên Tạp chí Kinh doanh và Biên mậu Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Văn Anh - Trưởng ban Công tác Hội viên VCCI (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI).
PV: Thưa ông, trong bối cảnh nền kinh tế đang đặt mục tiêu tăng trưởng gắn với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh, ông đánh giá như thế nào về vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong việc hiện thực hóa các mục tiêu này?
Ông Hoàng Văn Anh: Sau chặng đường dài vận hành các cơ chế, chính sách, thể chế khác nhau, chúng ta đã xây dựng được khu vực kinh tế tư nhân đủ mạnh, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế.
Cách đây 40 năm, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện với trọng tâm là phát triển kinh tế. Theo thống kê và số liệu báo cáo tôi có được, thời điểm đó cả nước có 13.000 doanh nghiệp Nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân không được ghi nhận và thông tin chi tiết mặc dù họ đã có vị trí và tham gia chủ chốt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ… Khi đó, có khá nhiều bất cập từ cơ chế, chính sách, quy định liên quan đến khu vực kinh tế tư nhân và các sản phẩm hàng hóa của họ làm ra.

Ông Hoàng Văn Anh - Trưởng ban Công tác Hội viên VCCI (Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI)
Từ định hướng chiến lược của Đảng, sự tham gia vào cuộc của các cấp, các ngành, Luật Doanh nghiệp năm 1990 đã được ban hành với những khung khổ pháp lý thực sự cởi trói cho khu vực kinh tế quan trọng này. Từ thời điểm đó, nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh mang dấu ấn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã dần được các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh sòng phẳng, ví dụ như phân phối, bán lẻ với sự tham gia của Vinmart (nay là Winmart) hay lĩnh vực lắp ráp, sản xuất ô tô với sự tham gia của THACO, Thành Công…
Cùng với chặng đường phát triển của đất nước, nhiều chỉ thị, nghị quyết mới đã được cập nhật, ban hành, khung khổ pháp lý cũng từng bước được hoàn thiện để khu vực kinh tế quan trọng này khẳng định vai trò, vị thế trong nền kinh tế đất nước.
Trở lại với câu hỏi của nhà báo, từ chỗ không có doanh nghiệp tư nhân được ghi nhận chính thức, chúng ta hiện đã có trên 1,1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, khoảng 6 triệu hộ kinh doanh cá thể tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng vai trò là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế Việt Nam, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% thu ngân sách và tạo việc làm cho trên 82% lao động.
Khu vực này cũng tham gia tích cực trong thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh quốc gia và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững. Việc ban hành và triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW cách đây gần 1 năm đã có tác động, ảnh hưởng rõ nét đến sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp với số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng gần 40% so với thời điểm trước đó.
Nhiều doanh nghiệp trong nước đã tạo dựng và phát triển các sản phẩm, dịch vụ mang tính tiên phong, đột phá gắn với các định hướng phát triển chung của đất nước cũng như cam kết của Việt Nam trong khung khổ các thỏa thuận, hiệp định song phương và đa phương, gắn với khoa học công nghệ, với phát triển bền vững và chuyển đổi xanh. Chẳng hạn như FPT, VinFast, các dự án điện mặt trời, điện gió ở khu vực Nam Trung Bộ, Nam Bộ và Tây Nguyên; hay việc thay đổi mô hình sản xuất trong nhiều lĩnh vực như sản xuất thép xanh với công nghệ luyện dùng khí hóa lỏng, than sinh học, điện từ các cánh đồng điện gió, hydrogen. Bên cạnh đó là hình ảnh các trang trại nông sản tầm cỡ quốc tế như của Tập đoàn TH trong và ngoài nước… Có thể thấy phần lớn các dự án này do các tập đoàn kinh tế tư nhân trong nước làm chủ đầu tư.
Với định hướng phát triển kinh tế đất nước gắn tăng trưởng với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh, khu vực kinh tế tư nhân đã có sự chuẩn bị và sẵn sàng đảm nhận vai trò tiên phong trong chiến lược phát triển này.
PV: Từ góc độ cơ quan VCCI, theo ông cần hoàn thiện những cơ chế, chính sách gì để tháo gỡ rào cản về vốn, công nghệ và môi trường kinh doanh, qua đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, phát triển bền vững?
Ông Hoàng Văn Anh: Là tổ chức quốc gia đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, hiệp hội doanh nghiệp và người sử dụng lao động, VCCI có vai trò tham mưu chính sách, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lý, quản trị, phát triển nguồn nhân lực… Nhiều cơ chế chính sách có ý nghĩa chiến lược đã được VCCI tham mưu và triển khai theo các mô hình khác nhau, qua đó góp phần tạo môi trường kinh doanh ngày càng thông thoáng và minh bạch cho các hoạt động kinh tế.

Đối thoại giữa VCCI và Hải quan nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân
Các báo cáo, nghiên cứu của các cơ quan, bộ ngành đều chỉ ra những khó khăn của doanh nghiệp tư nhân thời gian qua chủ yếu liên quan đến vốn, công nghệ và môi trường kinh doanh. Giải pháp cho các vấn đề này cần được nhìn nhận theo quy mô và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn có điều kiện tiếp cận vốn, đầu tư công nghệ và phát triển nguồn nhân lực dễ dàng hơn so với cộng đồng gần 98% doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Do đó, cần triển khai 4 nhóm giải pháp chính:
Thứ nhất, Chính phủ và các tổ chức tài chính cần cung cấp các gói hỗ trợ tài chính chính như khoản vay ưu đãi hoặc đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để phát triển chuyển đổi số lượng. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần đầu tư vào hạ tầng công nghệ và phần mềm quản trị.
Thứ hai, phát triển các chương trình đào tạo kỹ năng rộng rãi, đặc biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các trường đại học và tổ chức đào tạo cần hợp tác với doanh nghiệp để xây dựng chương trình học phù hợp với nhu cầu thực tế.
Thứ ba, tăng cường hợp tác giữa Chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức quốc tế nhằm thúc đẩy chuyển đổi số. Các mô hình hợp tác công – tư (PPP) có thể được áp dụng để phát triển số lượng hạ tầng và chia sẻ nguồn lực.
Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện phương pháp đau khổ và đơn giản hóa thủ tục hành động chính.
Trong các cuộc thảo luận đã quyết định về kinh tế tư nhân cũng nhấn mạnh việc hỗ trợ tín dụng xanh cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Dòng tín dụng xanh sẽ là động lực, là chất xúc tác giúp kinh tế tư nhân phát huy tốt hơn, góp phần giúp Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 và đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050.
Theo nhiệm vụ được phân công trong chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW, VCCI đã đề xuất thay đổi Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa và cải tiến tiến công tác quản lý, vận hành Quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và phù hợp để doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi hơn trong thêm các nguồn hỗ trợ tài chính chính.
PV: Ông có kiến nghị gì thúc đẩy tăng cường sự liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với khu vực nhà nước, các viện nghiên cứu và trường đại học để thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ, nâng cao lực cạnh tranh trong thời gian tới?
Ông Hoàng Văn Anh: Mô hình quản lý “3 nhà”, bao gồm Nhà quản lý – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp đã được VCCI phát triển khai trong nhiều chương trình khác nhau và đã chứng minh hiệu quả tích cực.
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều đề xuất quyết định quan trọng và xác định tâm phát triển các chương trình hành động thúc đẩy hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Để quan hệ này phát huy hiệu quả hơn, tôi cần tập trung vào một số hướng chính:
Thứ ba, hoàn thiện chế độ và chính sách, xây dựng cơ chế đặc thù cho các mô hình kinh doanh mới, đồng thời đơn giản hóa thủ tục hành động chính cho doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Thứ hai, tăng cường hỗ trợ tài chính và ưu đãi như cung cấp tín dụng xanh, giảm thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tiết kiệm năng lượng và năng lượng tái tạo.
Thứ ba, phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực, bao gồm đầu tư hạ tầng số như 5G, trung tâm dữ liệu và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu chuyển đổi.
Thứ tư, cung cấp hợp tác công tư (PPP), khuyến khích khu vực tư nhân tham gia xây dựng hạ tầng, giải quyết các vấn đề môi trường và xã hội.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Lam Giang - Bảo Loan